
r/southVietnam

For many people in the Vietnamese diaspora, opposing communism in Việt-Nam isn't political, it's personal. Assemblyman Tri Ta representing California's 70th Assembly District speaks up again Hasan Piker, a known champaign communist known for his intense hatred for South Vietnamese refugees.
Thông báo Diễn hành Ngày Anzac 25/4 của Hội CQN-QLVNCH-VIC (Melbourne)
Thông Báo
Diễn hành ngày Anzac Day 25/4/2026
Ban Chấp Hành Hội CQN/QLVNCH/Victoria xin thông báo và kính mời quý Niên Trưởng và quý Chiến Hữu tham dự diễn hành ANZAC DAY 25/4/2026, sẽ được tổ chức tại hai địa điểm như sau:
1/ Tại RSL Dandenong, do Hội CQN/QLVNCH/Victoria cùng RSL Dandenong đồng tổ chức.
BCH đã đề cử CH Đỗ văn Thắng thay mặt Hội CQN/QLVNCH/Vic phát biểu và đặt vòng hoa tưởng niệm.
Xin tập trung vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày Thứ Bảy 25/4/2026, tại Tượng Đài Chiến Sĩ Úc Việt Dandenong, số 44-50 Clow St., Dandenong.
Hàng năm, ngày 25/4 (Anzac Day), Hội CQN/QLVNCH/Vic đều được VINH DỰ diễn hành cùng CQN Hoàng Gia Úc và Đồng Minh.
Ban Chấp Hành trân trọng kính mời quý Niên Trưởng và quý Chiến Hữu tham dự thật đông đủ, để chứng minh rằng CQN/QLVNCH luôn nêu cao Chính Nghĩa Quốc Gia với ngọn Quốc Quân Kỳ Úc và VNCH phất phới tung bay.
Quý Chiến hữu tham dự xin mặc Quân phục, nếu có.
2/ Tại Thành Phố Melbourne
– Tập trung vào lúc 10 giờ 00 sáng ngày Thứ Bảy, 25/4/2026.
– Tại cổng ga xe lửa Flinders St., Melbourne, gần góc đường Flinders St. và Swanston St..
Tôi kêu gọi các chiến hữu, những người đã trở về bên cánh cờ vàng, hãy đến tham dự những sự kiện này, đặc biệt là các bạn trẻ. Hãy gạt bỏ những khác biệt và đoàn kết dưới một lá cờ duy nhất trong ngày Hãy gạt bỏ những khác biệt và đoàn kết dưới một lá cờ duy nhất trong ngày này.
Đó là cách thể hiện sự ủng hộ của các bạn, nói với thế hệ đầu tiên rằng họ không chiến đấu vô ích, nói với họ rằng họ không đơn độc và thế hệ trẻ của chúng ta vẫn đứng vững và tin tưởng một ngày nào đó Việt Nam sẽ được tự do.
Chào mừng các bạn, đặc biệt là những người đến từ Việt Nam không phải là người Úc gốc Việt, sự hiện diện của các bạn sẽ có sức mạnh hơn lời nói rất nhiều.
Building gravestones for the fallen soldiers who died in Battle of An-Lộc during the Red Summer of 1972.
Hình xăm trên người lính Quốc gia
Mọi người có người thân hay là có tiếp xúc với những chú bác cựu quân nhân VNCH chưa?
Mình sưu tầm được 1 vài hình ảnh về những hình xăm phổ biến của người lính VNCH hồi xưa.
Mời mọi người coi rồi thảo luận, lỡ biết đâu có thêm những hình xăm độc đáo về người lính mà mình chưa biết đến.
Việt Nam: chia cắt, tương tàn và nỗi đau thống nhất trong lịch sử hiện đại (phần đầu)
(Bài viết này được trích từ bài bình luận của tôi (Wang Qingmin, nhà văn Trung Quốc) về tiểu thuyết Hàn Quốc và bộ phim cùng tên Dãy núi Taebaek. Bài bình luận bao gồm những nhận xét về lịch sử và chính trị của bán đảo Triều Tiên (Bắc và Nam Triều Tiên) cũng như Trung Quốc.
Trong bài bình luận đó có một chương—chính là nội dung của bài viết này—trình bày và phân tích chi tiết, cảm nhận và đánh giá về lịch sử chia cắt và thống nhất của Việt Nam, với nhiều điểm tương đồng với bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc. Trong quá trình bình luận, tôi cũng liên kết và phân tích Việt Nam, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và toàn thế giới trong một mạch tự sự và nhận định thống nhất.)
(Bi kịch chia cắt và nỗi đau thống nhất của Việt Nam:
Một lịch sử hiện đại đầy tai ương, cảnh huynh đệ tương tàn, sự can thiệp và rút lui từ bên ngoài, những bước ngoặt lịch sử, sự phản tỉnh của tầng lớp tinh hoa và sự tê liệt của quần chúng, cùng sự lạc lối và giằng co tiếp diễn của dân tộc (phần đầu))
Ở phía tây nam của bán đảo Triều Tiên, vượt qua Hoàng Hải, biển Hoa Đông và Biển Đông, hoặc đi qua đại lục Trung Quốc, tồn tại một bán đảo khác có liên hệ địa lý với Trung Quốc và gắn bó chặt chẽ với nền văn minh Trung Hoa—đó là bán đảo Đông Dương. Quốc gia nằm ở cực đông của bán đảo này, Việt Nam, có một lịch sử mang nhiều điểm tương đồng đáng kinh ngạc với bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, dưới tác động tổng hợp của những yếu tố ngẫu nhiên, nỗ lực chủ quan của con người, cũng như sự can dự và rút lui của các thế lực nước ngoài, Việt Nam đã đi theo một con đường và đạt tới những kết cục mang tính giai đoạn rất khác biệt.
Việt Nam, với lịch sử lâu đời không kém gì Triều Tiên/Cao Ly, trong một thời gian dài từng là chư hầu của các triều đại Trung Nguyên và là một phần mở rộng của nền văn minh Trung Hoa, qua đó hình thành nên một nền văn hóa rực rỡ được gọi là “Tiểu Trung Hoa phương Nam”. Trong thời cận đại và hiện đại, nhiều chí sĩ và nhà yêu nước Việt Nam cũng đã dấn thân vào tiến trình cứu quốc và hiện đại hóa đất nước.
Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm—những người sau này trở thành đối địch—đã từng là những thanh niên mang khát vọng cứu nước, bôn ba vì sự giải phóng và phục hưng dân tộc. Thực tế, họ chưa bao giờ quên đi lý tưởng ban đầu, mà chỉ lựa chọn những con đường khác nhau, mỗi người đều tin rằng con đường của mình có thể cứu dân tộc Việt Nam.
So với bán đảo Triều Tiên, nơi chịu sự xâm lược và đô hộ lâu dài của Nhật Bản, Việt Nam trong phần lớn thời kỳ cận đại là thuộc địa của Pháp. Cuộc xâm chiếm và cai trị ngắn ngủi của quân đội Nhật đã làm gián đoạn hệ thống thuộc địa của Pháp tại Đông Dương, nhưng sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, người Pháp đã quay trở lại.
Trong khi đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau khi giành quyền kiểm soát đại lục, đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho Việt Minh (Liên minh Độc lập Việt Nam) do Hồ Chí Minh lãnh đạo, cũng như cho Đảng Cộng sản Việt Nam (trước năm 1976 có tên chính thức là Đảng Lao động Việt Nam, nhưng thường được gọi chung là “Việt Cộng”).
Với sự hỗ trợ quân sự từ Đảng Cộng sản Trung Quốc, lực lượng Việt Minh đã đánh bại quân viễn chinh Pháp và kiểm soát phần lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17. Trong khi đó, miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của các lực lượng chống cộng do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Tính chất và sự đối lập giữa hai chính quyền Bắc và Nam Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với sự đối lập giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng tại Trung Quốc, cũng như giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc.
Chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền Nam từng bị phía Bắc, Trung Quốc và khối xã hội chủ nghĩa mô tả là “tay sai của chủ nghĩa đế quốc Pháp và Mỹ”, nhưng cách nhìn này không hoàn toàn phản ánh thực tế. Trên thực tế, dù nhận được sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đây vẫn là một chính quyền mang tính dân tộc chủ nghĩa với chủ quyền nhất định. So với miền Bắc, chính quyền này nhấn mạnh hơn đến bản sắc dân tộc và lợi ích quốc gia, đồng thời cũng xảy ra xung đột với các chính quyền cùng phe chống cộng như chính quyền Lon Nol tại Campuchia về vấn đề lãnh thổ, cho thấy sự coi trọng lợi ích quốc gia của mình.
Chính quyền miền Nam dựa vào Pháp và Hoa Kỳ, chủ yếu nhằm đối phó với mối đe dọa từ miền Bắc, vốn nhận được sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Liên Xô. Mặc dù tồn tại nhiều tham nhũng và bạo lực, và nền dân chủ mang tính hình thức, xã hội miền Nam vẫn duy trì một mức độ tự do nhất định cho cá nhân. Kinh tế thị trường và tự do ngôn luận, dù chưa hoàn thiện, vẫn tồn tại một cách bền bỉ.
Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm đã đàn áp nhiều lực lượng khác nhau, bao gồm việc thảm sát Phật tử và giới trí thức cánh tả, để lại những vết nhơ lớn. Hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu và bức ảnh viên cảnh sát trưởng miền Nam xử bắn tù binh Việt Cộng đã gây chấn động toàn thế giới. Bản thân Ngô Đình Diệm cũng đã chết trong những cuộc đấu tranh chính trị đầy khốc liệt.
Ở miền Bắc, chính quyền Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo, về bản chất gần như tương đồng với các chế độ xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Liên Xô và Bắc Triều Tiên, nhưng mức độ chuyên chế và tàn bạo thấp hơn đáng kể. Điều này phần lớn xuất phát từ bản thân Hồ Chí Minh—một nhà lãnh đạo tương đối ôn hòa, giản dị và ít tham vọng quyền lực—khác với những nhân vật như Stalin, Mao Trạch Đông hay Kim Nhật Thành.
Điều đó cũng ảnh hưởng đáng kể đến bầu không khí chính trị chung của Việt Minh và sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cuộc thanh trừng nội bộ ít diễn ra hơn, và tồn tại một mức độ nhất định của sinh hoạt dân chủ trong đảng. Dù Hồ Chí Minh có ảnh hưởng vượt trội, ông không cai trị một cách độc đoán tuyệt đối.
Tuy nhiên, sự đối lập mang tính căn bản giữa Bắc và Nam Việt Nam không vì thế mà giảm bớt. Ngược lại, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, mối quan hệ giữa hai bên còn trở nên gay gắt và không thể dung hòa hơn cả giữa hai miền Triều Tiên. Trên danh nghĩa, cả hai đều nhấn mạnh việc thống nhất đất nước dựa trên ý chí nhân dân và hòa bình, nhưng trên thực tế, cả hai thường xuyên sử dụng bạo lực và mưu lược—vừa thanh trừng đối lập trong nội bộ để củng cố quyền lực, vừa tìm cách thôn tính phần lãnh thổ còn lại do đối phương kiểm soát.
Trong khi đó, Hoa Kỳ dần thay thế Pháp trở thành người bảo trợ cho chính quyền miền Nam, và cuối cùng trực tiếp can thiệp, khiến mâu thuẫn giữa các bên tại Việt Nam leo thang và đẩy đất nước vào hơn một thập kỷ chiến tranh. Khác với Chiến tranh Triều Tiên—thường được gọi tại Hoa Kỳ là “cuộc chiến bị lãng quên”—Chiến tranh Việt Nam trở thành ký ức lịch sử sâu sắc của nhiều thế hệ người Mỹ, từ thanh niên đến người cao tuổi, kéo theo vô số báo chí, phim ảnh và phong trào xã hội.
Dưới áp lực của những suy tư và phản tỉnh đó, sau khi chịu tổn thất hơn 50.000 binh sĩ tử trận và hàng trăm nghìn người bị thương, chính phủ Hoa Kỳ đã rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam vào năm 1973. Hai năm sau, Hoa Kỳ tiếp tục từ bỏ việc bảo vệ chính quyền miền Nam.
Năm 1975, chính quyền miền Bắc do Lê Duẩn lãnh đạo phát động chiến dịch thống nhất. Dù mất sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, quân đội miền Nam, dựa vào vũ khí và nguồn lực còn lại, vẫn tiến hành nhiều tháng kháng cự quyết liệt. Tuy nhiên, đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn thất thủ, và Việt Nam được thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việc chiếm được Sài Gòn không chỉ đánh dấu sự thống nhất đất nước, mà vào thời điểm đó còn được xem như biểu tượng cho đỉnh cao mới của phong trào cộng sản và viễn cảnh thắng lợi toàn cầu của cách mạng cộng sản. Những hình ảnh người Mỹ và một bộ phận quan chức, dân thường Việt Nam vội vã tháo chạy vào giờ phút cuối cùng dường như tượng trưng cho sự suy tàn của Hoa Kỳ, và rộng hơn là của thế giới tư bản.
Hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Khmer Đỏ tại Campuchia cũng đã chiếm Phnom Penh, khiến chính quyền Lon Nol sụp đổ. Tháng 12 năm 1975, lực lượng cánh tả tại Lào kiểm soát Viêng Chăn, đánh dấu thắng lợi của cách mạng Lào. Như vậy, toàn bộ ba nước Đông Dương đều rơi vào tay các lực lượng cánh tả.
Trong khi đó, vào giữa thập niên 1970, Liên Xô đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng, mở rộng phạm vi quyền lực tại Trung Đông, Mỹ Latinh, châu Phi và Nam Á. Các phong trào cánh tả tại phương Tây cũng tích tụ trong nhiều năm và đạt tới cao trào. Vào thời điểm đó, thế giới dường như thực sự tiến gần tới hình ảnh “cờ đỏ phủ khắp toàn cầu”.
Tuy nhiên, không chỉ riêng Việt Nam mà cả phong trào cộng sản toàn cầu đều nhanh chóng suy thoái sau đỉnh cao “chiếm/ thất thủ Sài Gòn”. Thực tế, ngay từ khi chính quyền Bắc Việt được thiết lập năm 1945, các vùng lãnh thổ do họ kiểm soát đã trong tình trạng bị chiến tranh tàn phá và tổn hại về chính trị trong thời gian dài.
Dù là sự ném bom tàn phá của quân đội Pháp và Hoa Kỳ, hay các chính sách kinh tế cực tả do chính quyền cộng sản thực thi, tất cả đều khiến nền kinh tế Việt Nam trì trệ. Việc không xảy ra nạn đói quy mô lớn chủ yếu là nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi của đồng bằng sông Hồng. Trong khi đó, miền Nam Việt Nam cũng phải chịu đựng những xung đột bạo lực khốc liệt và bất ổn chính trị kéo dài; tuy kinh tế tốt hơn miền Bắc, nhưng vẫn tương đối nghèo so với các nước Đông Nam Á khác như Thái Lan hay Malaysia.
Sau khi kiểm soát miền Nam và thống nhất đất nước, chính quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã tiến hành cải cách ruộng đất và cải cách sở hữu một cách cưỡng bức tại miền Nam, thực hiện quốc hữu hóa và tập thể hóa toàn diện, xóa bỏ các doanh nghiệp tư nhân, tịch thu tài sản của giới tư sản và đất đai của địa chủ, phú nông. Đồng thời, hàng trăm nghìn quân nhân, cảnh sát, công chức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước đây, cùng với địa chủ và tư sản, đã bị đưa vào các trại cải tạo.
Những chính sách này đã giáng đòn nặng nề vào kinh tế và đời sống dân sinh của Việt Nam: sản xuất công nghiệp và nông nghiệp gần như sụp đổ, tình trạng nghèo đói lan rộng nhanh chóng, xã hội rơi vào bất ổn. Hàng triệu người Việt đã tìm cách vượt biển ra đi, hướng tới Hồng Kông, Đông Nam Á, châu Âu và châu Mỹ, trong quá trình đó xảy ra vô số bi kịch khốc liệt.
Sau đó, chính quyền Việt Nam quyết định triển khai chính sách “Đổi Mới”, tương tự như “cải cách và mở cửa” của Trung Quốc, từ bỏ mô hình công hữu tuyệt đối và nền kinh tế kế hoạch hóa hoàn toàn, cho phép tồn tại kinh tế tư nhân và kinh doanh cá thể, khuyến khích sản xuất hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời mở cửa với đầu tư và thương mại quốc tế. Tuy nhiên, chính sách này chỉ được khởi xướng vào năm 1986, và phải đến thập niên 1990 trở đi mới đạt được những kết quả rõ rệt. Trong khoảng hơn mười năm từ 1975 đến giữa thập niên 1980, nền kinh tế Việt Nam gần như rơi vào trạng thái sụp đổ.
Mặc dù đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ và giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc đối đầu với chính quyền dân tộc chủ nghĩa miền Nam (cùng các lực lượng hậu thuẫn như Hoa Kỳ), nhưng xét về phát triển quốc gia và cải thiện đời sống dân sinh, chính quyền này thực chất đã thất bại. Chính sách Đổi Mới tuy giúp cứu vãn xu thế suy sụp hoàn toàn, nhưng cho đến nay thành tựu vẫn còn hạn chế.
Hơn nữa, Đổi Mới trên thực tế đồng nghĩa với việc từ bỏ lý tưởng cộng sản mang tính nguyên giáo, khi dưới chế độ một đảng vẫn duy trì, Việt Nam lại vận hành nền kinh tế theo hướng thực tế mang tính tư bản. Chủ nghĩa cộng sản từ đó phần lớn chỉ còn là một lời hứa treo lơ lửng.
Phong trào cộng sản quốc tế cũng trải qua quá trình suy thoái nhanh chóng từ nửa sau thập niên 1970 kéo dài hơn một thập kỷ sau đó. Sự hùng mạnh của Liên Xô trong những năm 1970 phần lớn dựa vào lợi ích từ kinh tế dầu mỏ và sự phục hồi nhất thời của nền tảng cũ. Bước sang thập niên 1980, kinh tế Liên Xô suy thoái, đời sống nhân dân khó khăn, chính trị trì trệ, tầng lớp lãnh đạo già hóa, xã hội mất đi sức sống. Tình trạng này cũng phổ biến trong toàn bộ khối Xô-Đông Âu.
Mikhail Gorbachev từng cố gắng xoay chuyển tình thế, nhưng lại vô tình làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn nội tại, dẫn đến biến động ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô. Cường quốc từng đứng vững trong nhiều thập kỷ sụp đổ trong chốc lát, và toàn bộ tiến trình “tìm kiếm gian nan” nhằm xây dựng “thiên đường cộng sản” bằng cách mạng bạo lực và chuyên chính vô sản cũng hoàn toàn phá sản.
Tại phương Tây, các phong trào cánh tả sôi động trong thập niên 1960–1970 cũng dần suy giảm. Về văn hóa, chủ nghĩa bảo thủ Kitô giáo phục hưng, con người quay trở lại với truyền thống thay vì tìm cách phá bỏ tất cả; về chính trị và kinh tế, với sự lên nắm quyền của Thatcher và Reagan, “chủ nghĩa tân tự do” trở thành xu thế chủ đạo, chính trị thực dụng vượt lên trên ngoại giao lý tưởng; trong giới tư tưởng phương Tây cũng diễn ra sự phản tỉnh về việc từng sùng bái Liên Xô một cách mù quáng và xem nhẹ các giá trị nhân đạo và dân chủ. Francis Fukuyama thậm chí đã đưa ra luận điểm “kết thúc của lịch sử”, cho rằng mô hình dân chủ tự do phương Tây sẽ trở thành hình thái phổ biến toàn cầu.
Tại các khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, phong trào cộng sản cũng dần suy yếu. Ở Trung Quốc, chính sách “cải cách và mở cửa” của Đặng Tiểu Bình cùng khái niệm “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” rõ ràng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản theo nghĩa cổ điển để chuyển sang chủ nghĩa thực dụng. Tại Mỹ Latinh, con đường cách mạng cộng sản bạo lực bị thay thế bởi đấu tranh hòa bình theo hướng dân chủ xã hội; các tổ chức như “Con Đường Sáng” hay “Lực lượng Vũ trang Cách mạng Colombia” dần suy yếu và đi vào thoái trào. Ở châu Phi, nhiều chính quyền cánh tả do Liên Xô hậu thuẫn cũng chuyển hướng về lý thuyết theo dân chủ xã hội, nhưng trên thực tế lại trở thành các chế độ độc tài dưới sự chi phối của tầng lớp tinh hoa hoặc chỉ tồn tại dân chủ ở mức rất thấp, xa rời lý tưởng cộng sản ban đầu. Tại Đông Nam Á, các phong trào cộng sản từng mạnh mẽ ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia… cũng bị các lực lượng dân tộc chủ nghĩa và phương Tây phối hợp đàn áp.
Điều đáng cảm khái nhất là Campuchia, quốc gia láng giềng của Việt Nam. Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo đã chiếm Phnom Penh ngay trước khi Sài Gòn thất thủ. Nhưng khác với việc chính quyền Việt Nam phần nào khoan dung với nhân sự của chính quyền miền Nam (phần lớn chỉ đưa vào trại cải tạo), Khmer Đỏ đã tiến hành tàn sát quy mô lớn đối với những người thuộc chính quyền Lon Nol, rồi mở rộng ra gần như toàn bộ trí thức, tầng lớp tinh hoa xã hội, cư dân đô thị và cả những người nông dân khá giả. Trong hơn ba năm cầm quyền, khoảng 1,5 triệu người Campuchia đã bị giết hại, chiếm khoảng một phần tư dân số cả nước.
Việc chấm dứt các cuộc thảm sát này lại đến từ chính quyền Việt Nam—lực lượng từng là đồng minh cách mạng với Khmer Đỏ nhưng đồng thời có xung đột lợi ích quốc gia và tham vọng khu vực. Cả việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia lẫn việc cộng đồng quốc tế dần nhận ra sự thật đều gây chấn động sâu sắc trước mức độ tàn sát mang tính phổ biến tại Campuchia, cũng như trước thực tế rằng ở một số nơi, các lực lượng cộng sản đã đạt tới mức độ phi nhân tính đáng kinh ngạc, biến dạng lý tưởng cộng sản và tạo ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.
So với thảm kịch gần như hủy diệt tại Campuchia dưới thời Khmer Đỏ, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có vẻ “chấp nhận được hơn”: không xảy ra các cuộc thảm sát quy mô lớn, các cuộc thanh trừng chính trị có quy mô nhỏ hơn và phương thức tương đối “ôn hòa” hơn (đa số chỉ bị đưa đi lao động sản xuất và cải tạo tư tưởng; dù vẫn có người bị xử tử, nhiều người chết vì bệnh tật, đói khát, hoặc thiệt mạng khi tìm cách vượt biên, như được phản ánh trong bộ phim Boat People). Việt Nam cũng không trải qua những chiến dịch chính trị quy mô lớn như Trung Quốc, và so với Bắc Triều Tiên, môi trường chính trị – xã hội có thể coi là “dễ thở” hơn. Sau khi tiến hành Đổi Mới từ giữa thập niên 1980, kinh tế – xã hội Việt Nam cũng đạt được sự phát triển đáng kể, trở thành một trong những quốc gia đang lên tại Đông Nam Á.
Tuy nhiên, về bản chất, tình hình Việt Nam vẫn tương tự Trung Quốc: đây là một quốc gia mang tính chuyên chế, nơi người dân phổ biến thiếu quyền chính trị và tự do; Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền quyền lực, tự do báo chí và ngôn luận bị hạn chế, và những người bất đồng chính kiến hiếm hoi thường bị đàn áp. Về kinh tế, dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây và đời sống người dân được cải thiện, quốc gia này vẫn thuộc nhóm tương đối nghèo trên thế giới; GDP bình quân đầu người thấp hơn phần lớn các nước Đông Nam Á và cũng thấp hơn Trung Quốc. Sự tăng trưởng trong những năm gần đây phần nào mang tính bù đắp cho những tổn thất nghiêm trọng trước đó, và không nên được cường điệu hóa. Hệ thống phúc lợi xã hội còn yếu, tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại rộng rãi ở cả thành thị lẫn nông thôn, khiến nhiều người phải di cư hoặc vượt biên sang châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông để mưu sinh.
Hơn nữa, những thành tựu kinh tế hạn chế của Việt Nam phần lớn lại dựa trên mô hình kinh tế mang tính tư bản, chứ không phải là kết quả trực tiếp từ các lý tưởng và chính sách cộng sản mà chính quyền đã theo đuổi từ khi thành lập. Đồng thời, các vấn đề như phân hóa giàu nghèo, tham nhũng của giới quyền lực, quan hệ thân hữu… cũng cho thấy chính quyền này không thể ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực vốn thường được gắn với xã hội tư bản hoặc các chế độ chuyên chế truyền thống.
Vậy thì, một cuộc cách mạng cộng sản, với hàng triệu người đổ máu và hy sinh, rốt cuộc lại dẫn đến thực tại như vậy—rốt cuộc là vì điều gì? Trước câu hỏi này, một số người Việt Nam đã bắt đầu suy ngẫm. Trong cuốn Việt Nam: Kẻ câm lặng của lịch sử thế giới, nhiều ví dụ đã được nêu ra. Chẳng hạn, nhạc sĩ Phạm Duy, trong ca khúc Câu chuyện của hai người lính, đã nghẹn ngào cất lên: “Trong buổi bình minh ửng đỏ, hai người lính giết nhau vì Việt Nam! Giết nhau vì Việt Nam!” Một nhạc sĩ khác nổi tiếng hơn nữa, gần như ai cũng biết—Trịnh Công Sơn—cũng đã thể hiện trong các tác phẩm của mình sự suy tư về sự tàn khốc của chiến tranh và những tổn hại mà nó gây ra cho quân và dân Việt Nam.
Nhà văn Bảo Ninh, xuất thân từ quân đội, càng đi xa hơn khi dựa trên trải nghiệm cá nhân để viết nên lời cáo buộc đầy bi phẫn về hàng chục năm chiến tranh, về những cái chết chất chồng, về một đất nước bị biến thành tro tàn mà rốt cuộc lại không thu được gì. Trong tác phẩm tiêu biểu Nỗi buồn chiến tranh, ông để cho nhân vật người lính cất tiếng: “Đổ bao nhiêu máu, hy sinh bao nhiêu người, rốt cuộc là vì cái gì?”
Một nữ nhà văn khác, Dương Thu Hương, từ góc nhìn của phụ nữ đã lên án tội ác của chiến tranh và sự tàn bạo trong nhiều hành vi của chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Những lời tố cáo mạnh mẽ của bà đến mức ngay cả Tổng Bí thư tương đối cởi mở là Nguyễn Văn Linh cũng không thể chấp nhận, đã nổi giận và khai trừ bà khỏi đảng, đồng thời đẩy bà vào cảnh lưu đày.
Những suy tư, nghi vấn và nỗi đau ấy không chỉ thuộc về họ, mà còn phản ánh tâm trạng của những cán bộ, trí thức, công nhân và nông dân có lương tri và tinh thần phản tỉnh trong các chế độ như Liên Xô, Trung Quốc hay Triều Tiên. Nội chiến Nga, nội chiến Quốc–Cộng tại Trung Quốc, Chiến tranh Triều Tiên—biết bao nhiêu cái chết và tàn phá, biết bao bi kịch được gọi là “sai lầm” hay “đi đường vòng”—rốt cuộc là vì điều gì?
Những phản tỉnh của trí thức Việt Nam là đáng quý. Nhưng đối với cả quốc gia và dân tộc, chừng đó là hoàn toàn chưa đủ. Giới trí thức Việt Nam giống như những chiếc lá sen nổi trên mặt nước—quả thực tràn đầy sức sống. Nhưng phần lớn người dân lại bị che phủ dưới làn nước đục, sống và chết trong trạng thái mơ hồ, u tối. Nỗi khổ của những tầng lớp yếu thế dưới đáy xã hội thì như lớp bùn dưới lòng sông, không bao giờ được ánh sáng chiếu tới.
Chiến tranh đẫm máu, môi trường sinh tồn khắc nghiệt, sự nghèo đói phổ biến và thiếu thốn tri thức đã khiến người Việt Nam phần lớn lựa chọn chịu đựng, im lặng và sống qua ngày. Điều này hoàn toàn khác với người dân Hàn Quốc—những người được hưởng tự do dân chủ, sống trong ổn định và thịnh vượng, có ý thức công dân mạnh mẽ và thường xuyên tham gia các phong trào xã hội.
Trong bộ phim Mỹ về chiến tranh Việt Nam Apocalypse Now, qua lời của đại tá Kurtz—một nhân vật được xem như mang tính “ác quỷ”—đã nêu ra rằng: binh lính Mỹ khó có thể chịu đựng được sự tàn khốc của chiến tranh; một mặt họ bị yêu cầu phải có đạo đức và trách nhiệm, mặt khác lại phải giết người không chớp mắt. Nhiều người không thể làm được điều đó và đã phát điên. Trong khi đó, người Việt Nam có thể vừa sống như những thường dân bình thường bên gia đình, vừa có thể giết người mà không mang gánh nặng tâm lý, thậm chí chặt tay của những đứa trẻ đã được tiêm vắc-xin của Mỹ và chất thành đống.
Trong bộ phim khác The Deer Hunter, người lính Mỹ Nick, khi bị bắt, đã bị buộc phải chơi trò “cò quay Nga” bằng súng lục. Dù cuối cùng anh và đồng đội giết được lính Việt và trốn thoát, Nick lại không thể thoát khỏi ám ảnh của trò chơi đó, chìm đắm trong nó và cuối cùng chết trong một lần “cò quay Nga”. Trong khi đó, những người lính Việt thường xuyên dùng trò này để hành hạ tù binh lại không hề bị ám ảnh bởi nó. Dù là cái chết của lính Mỹ hay của chính đồng đội mình, họ dường như đã trở nên quen thuộc.
Võ Nguyên Giáp, lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau khi kết thúc chiến tranh chống Pháp từng nói: “Mỗi phút trên thế giới có hàng nghìn, hàng vạn người chết. Một trăm, một nghìn, một vạn, hàng vạn người chết—vì cách mạng và sự thống nhất đất nước—kể cả nếu đó là đồng bào của chúng ta, cũng không đáng kể.” Trong cuộc chiến sau đó với Hoa Kỳ, từ trên xuống dưới, miền Bắc Việt Nam cũng hành xử theo một logic tương tự.
Chính nhờ sự kiên cường đến mức khắc nghiệt, sự lạnh lùng, việc gạt bỏ đồng cảm, không ngại hy sinh sinh mạng con người, không sợ sự tan vỡ của những giá trị tốt đẹp, và bất chấp mọi tổn thất vật chất lẫn tinh thần, mà lực lượng cộng sản Việt Nam đã kéo dài cuộc chiến cho đến khi buộc quân đội Hoa Kỳ phải rút lui.
Sự “cứng như thép” và dường như thiếu cảm xúc ấy thực chất là biểu hiện của sự tê liệt tinh thần và suy thoái đạo đức. Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh chiến tranh, họ gần như không có điều kiện để nghiền ngẫm nỗi đau hay tiến hành phản tỉnh sâu sắc. Hoa Kỳ mất khoảng 46.000 binh sĩ và hơn 150.000 người bị thương tại Việt Nam, và cả nước Mỹ đã tiến hành vô số hoạt động tưởng niệm và phản tư; hàng trăm, hàng nghìn bộ phim kinh điển lấy đề tài từ chiến tranh Việt Nam đã ra đời, làm thay đổi sâu sắc tư duy và số phận của cả một thế hệ người Mỹ, và ảnh hưởng kéo dài đến tận ngày nay.
Trong khi đó, phía Việt Nam có hơn một triệu người chết trong chiến tranh, hàng triệu người bị thương hoặc tàn tật, đất nước bị tàn phá thành hoang tàn. Thế nhưng, ở cấp độ toàn xã hội, lại không diễn ra một quá trình phản tỉnh sâu rộng và toàn diện. Chính vì chiến tranh đối với người Việt Nam quá khốc liệt, những tổn thất về vật chất và tinh thần quá nặng nề, nên cho đến nay đất nước vẫn chưa thực sự thoát khỏi những di chứng của chiến tranh cũng như tình trạng quốc gia yếu kém và dân chúng nghèo khó.
Dẫu vậy, cái giá khổng lồ mà quân đội và nhân dân Việt Nam phải trả đã đổi lấy sự thống nhất đất nước. So với Trung Quốc hay bán đảo Triều Tiên vẫn còn bị chia cắt, Việt Nam đã thực hiện được giấc mơ thống nhất từ năm 1975. Nhưng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, những bi kịch nói trên vẫn tiếp diễn.
(Còn tiếp. Do bài viết khá dài và bài đăng trên Reddit bị giới hạn 40.000 ký tự, nên chỉ có thể chia thành hai phần (trên và dưới) để đăng.)
(Tác giả của bài viết này là Wang Qingmin, một nhà văn Trung Quốc sống tại châu Âu và là nhà nghiên cứu chính trị quốc tế. Tác giả cũng đã viết nhiều bài bình luận về Việt Nam. Bản gốc được viết bằng tiếng Trung.)
Japanese news report about the final days of South Việt-Nam (Vietnamese and English subtitles)
youtube.comAfter the northern invasion, veterans of the Army of the Republic of Vietnam were imprisoned in concentration camps. Their homes were confiscated and they were forced into “New Economic Zones” to carry out manual labour. They and their children were denied access to education and barred from work.
The origins of our yellow striped flag: A symbol of Việt-Nam Cộng-Hòa, also known as South Việt-Nam or Republic of Việt-Nam in English. A symbol of freedom and hope for the Vietnamese people.
youtube.comThe history of the Republic of Việt-Nam Navy. From nothing more than 'ink on paper', it grew into one of the largest naval forces in the world by 1973, becoming the backbone of the fight against communism.
youtube.comTIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #2
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #2
Chào mừng các bạn quay trở lại với tiết lịch sử của r/Free_Vietnam. Ở đây, mỗi lần một ít, mình sẽ lật lại các lời tuyên truyền quen thuộc.
Trong tiết hôm nay, mình sẽ làm rõ điều này:
✅️ Chủ nghĩa cộng sản là một phần của mạng lưới ý thức hệ quốc tế. Nó đã được du nhập từ bên ngoài và các cán bộ được đào tạo ở nước ngoài rồi đưa về Việt Nam.
❌️ Đây không phải là một phong trào tự phát từ quần chúng mà là sự thâm nhập chính trị có tổ chức.
Việc này diễn ra như sau:
Hồ Chí Minh rời Việt Nam (1911, làm việc trên tàu Pháp với tên Văn Ba).
Ông gia nhập mạng lưới cộng sản quốc tế (1920, tên Nguyễn Ái Quốc).
Ông được đào tạo tại:
Quốc tế Cộng sản (1923–1924, Moskva) Liên Xô
Trung Quốc (Quảng Châu, tên Lý Thụy, 1924–1927; 1938–1941 xây dựng căn cứ Việt Minh)
1930: Thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP)
Ngược lại với các lời tuyên truyền, trong những năm tiếp theo tới 1945, Việt Nam còn có nhiều phe phái tranh giành quyền lực với nhau. Để hiểu rõ hơn về chúng, hãy quay lại với TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #3.
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #4
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #4
Chào mừng các bạn quay trở lại với tiết lịch sử của r/Free_Vietnam. Ở đây, mỗi lần một ít, mình sẽ lật lại các lời tuyên truyền quen thuộc.
Trong tiết hôm nay, mình sẽ lật lại lời tuyên truyền sau đây:
✅️ "Cách mạng tháng 8" là một cuộc chiếm quyền nhanh trong hỗn loạn sau khi Nhật Bản đầu hàng và tạo ra một khoảng chống quyền lực.
❌️ Đây không phải một "thời điểm khai sinh duy nhất" thành lập ra đất nước Việt Nam.
Diễn biến trong 1940-1945:
Nhật đầu hàng → khoảng trống quyền lực
3 lực lượng nhảy vào khoảng trống đó:
Việt Minh
→ Tổ chức tốt, hành động nhanh, kiểm soát miền Bắc
Chính phủ Bảo Đại
→ Tồn tại ngắn, sau đó thoái vị (30/8/1945)
Lực lượng nước ngoài
→ Miền Bắc: Quốc dân đảng Trung Quốc
→ Miền Nam: Anh → tạo điều kiện cho Pháp quay lại
“Cách mạng tháng 8” là gì?
→ Việt Minh (do cộng sản lãnh đạo) nhanh chóng:
Chiếm các thành phố
Nắm cơ quan chính quyền
Bắt giữ đối thủ
🚩Không phải nổi dậy dân chủ toàn quốc
2/9/1945: Hồ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
🚩 Thực tế:
❌️ Không được công nhận rộng rãi
❌️ Không xóa bỏ ngay các phe khác
❌️ Chỉ là một trong nhiều bên tranh chấp
Sau khi giải thích ở tiết trước về sự mâu thuẫn trong tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trong tiết này mình đã lý giải thêm về bối cảnh quanh tuyên ngôn đó.
Vào năm 1945 không chỉ có riêng ông Hồ và cộng sản Việt Nam. Nhưng vì sao họ luôn tuyên truyền là "chỉ có Việt Minh (cộng sản) đánh Pháp"? Để hiểu rõ hơn, hãy quay lại với TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #5.
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #5
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #5
Chào mừng các bạn quay trở lại với tiết lịch sử của r/Free_Vietnam. Ở đây, mỗi lần một ít, mình sẽ lật lại các lời tuyên truyền quen thuộc.
Trong tiết hôm nay, mình sẽ lật lại lời tuyên truyền "chỉ có Việt Minh (cộng sản) đánh Pháp":
✅️ Sau khi cộng sản nhảy vào khoảng trống quyền lực, họ đã thanh trừng các phe phái và lực lượng khác để củng cố quyền lực. Cái kết là:
❌️ Ngày nay, đảng và dư luận viên thích tuyên truyền là chỉ có Việt Minh đánh Pháp thôi. Đó không phải là điều khó hay cao siêu...khi họ diệt hết đối thủ, tất nhiên chỉ còn họ nữa thôi.
Diễn biến của các năm hỗn loạn 1945-1946 và 1946-1954:
Cộng sản bắt đầu loại bỏ:
• VNQDĐ • Trotskyist • Các lực lượng tôn giáo và quốc gia khác
➡️ Bao gồm: giết, bắt, mất tích
➡️ Kết quả: Trước=nhiều phe, Sau=chủ yếu chỉ còn cộng sản (miền Bắc)
🚩🚩🚩Các phe đối lập bị loại bỏ vào thời điểm này trước khi bầu cử có thể diễn ra
Chiến tranh với Pháp - không hề "một mình"
Cộng sản được hỗ trợ bởi: Trung Quốc Liên Xô
➡️ Thực tế vs tuyên truyền:
❌ “Tự đánh bại Pháp”
✅ Có hỗ trợ lớn về huấn luyện, vũ khí
➡️ Trông có vẻ “một mình” vì các phe khác đã bị loại bỏ
Trong tiết sau, mình sẽ tìm hiểu thêm về các sự kiện diễn ra sau khi cộng sản nắm được quyền (hay như họ còn là "cướp chính quyền"), đặc biệt ở miền bắc, mời các bạn quay trở lại với TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #6.
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #3
Chào mừng các bạn quay trở lại với tiết lịch sử của r/Free_Vietnam. Ở đây, mỗi lần một ít, mình sẽ lật lại các lời tuyên truyền quen thuộc.
Trong tiết hôm nay, mình sẽ làm rõ mâu thuẫn này:
✅️ Đã tồn tại một nhà nước Việt Nam thống nhất trước tuyên bố của ông Hồ.
❌️ Ông Hồ và cộng sản Việt Nam không thành lập ra tổ quốc và càng không phải là cha già dân tộc.
Đây là một mâu thuẫn vô cùng quan trọng và bị bỏ qua. Vậy ai đến trước, ai đến sau? Sự việc diễn ra như này:
Nhật chiếm Việt Nam (1940)
Pháp vẫn tồn tại về mặt hành chính
11/3/1945: Bảo Đại tuyên bố Quốc Gia Việt Nam
Trong khi:
2/9/1945: Hồ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ông Hồ xuất hiện như thế nào cùng với các phe phái, lực lượng khác vào thời điểm đó? Để hiểu rõ hơn, hãy quay lại với TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #4.
29 April 1975, Sài-Gòn: Vietcong shelling and burning down civilian homes on the other side of the Đa-Kao Iron Bridge.
TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #1
Nhân dịp tháng 4, chúng mình sẽ ôn lại lịch sử của nước nhà. Mỗi lần một ít, mình sẽ lật lại các lời tuyên truyền quen thuộc.
Trong tiết hôm nay, mình sẽ làm rõ điều này:
✅️ Từ những năm 1900-1930, Việt Nam có nhiều phe phái dưới thực dân Pháp.
❌️ Chứ không phải một "cuộc cách mạng thống nhất" dưới cộng sản Việt Nam.
Nhiều phong trào độc lập khác nhau, trong đó có:
Phan Châu Trinh (cải cách)
→ Chủ trương giáo dục, cải cách pháp luật, hiện đại hóa
→ Muốn thay đổi mà không dùng bạo lực
Phan Bội Châu (chủ nghĩa dân tộc vũ trang)
→ Ủng hộ đấu tranh vũ trang
→ Tìm kiếm sự hỗ trợ từ Nhật Bản và nước ngoài
VNQDĐ (Đảng Quốc dân Việt Nam)
→ Lấy cảm hứng từ cách mạng Trung Quốc
→ Khởi nghĩa vũ trang (1930) → bị đàn áp
Để biết rõ hơn về cách chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam, hãy quay lại với TIẾT LỊCH SỬ VN - for dummies #2.