u/Chiensidietcong

Suy nghĩ của t về dự án Sông Hồng

Suy nghĩ của t về dự án Sông Hồng

Như tụi mày thấy báo chí dạo này tung ra rất nhiều rạp xiếc nhằm đánh lạc hướng khủng hoảng dư luận xung quanh, ví dụ là giải toả khu sông Hồng. Bỏ qua mấy cái phân tích pháp lý, để mà nói góc nhìn người dân bình thường thì tao thấy thương tụi nó hơn.

Đầu tiên, bọn cộng sản tung lũ dlv ra chụp mũ người dân mất đất là dân gian tham, lấn chiếm đất, đất không sổ ... Có thể đúng có thể sai. Nhưng tao thấy được bài cũ là cách nó chụp mũ bộ phận yêu nước là phản động. Nó cô lập người dân đóng thuế nuôi tụi nó, chụp cho người khác cái nón "tiêu cực" để tạo tâm lý phòng thủ và tránh xa. Đâm ra, người bình thường ngại rắc rối cũng ngại tìm hiểu và dây vô.

Thứ hai, đọc sgk thì thấy dân ta đoàn kết chống giặc ngoại xâm. Nhưng rồi, cái đoàn kết thời nay nó nằm ở đâu? Dân thủ thiêm mất đất thì im lặng, thấy video đòi đất cũng tặc lưỡi bỏ qua. Như dân gian nói "dao đâm vô thịt mới biết đau". Sao tao thấy tụi mình giống mấy con heo quá, được nuôi nhốt trong cái chuồng, mưu cầu cơm no áo ấm là được. Xong tới lúc lên thớt thì cam chịu, vì mấy con heo khác cũng bất lực và ko muốn mất cái "tổ ấm" đó.

Thứ ba, "tụi bây đúng luật thì nhà nước làm gì được?". Tao đồng ý, nhưng đặt tay lên trán tự hỏi chánh quyền này có thật sự tuân thủ luật pháp ko? Chúng ta là dân, chúng ta gặp chuyện chỉ biết tìm tới chánh quyền điều tra và xét xử. Họ cầm đằng chuôi, cho dù mày đúng đó nhưng tụi nó nói mày sai thì mày làm gì được. Lúc này, sức ép dư luận rất cần thiết nhưng rất tiếc dư luận cũng ngại "đụng chạm" nên im luôn.

Theo tao, Sông Hồng nó là 1 bài test. Với quy mô gấp 17 lần Thủ thiêm, nếu nó thành công thì kéo theo ngưỡng chấp nhận của xã hội cao lên. Và các tỉnh khác, sẽ có 1 case study điển hình để noi theo học hỏi, và chắc gì ngày mai không phải mình? Kịch bản này có thể đúng có thể sai, nhưng chắc chắn nó sẽ tạo ra tiền lệ.

Nói chung, anh em phản động cũng chỉ biết cười chứ không làm gì được. Chỉ mong có thay đổi nào đó trong cộng đồng, ít nhất chọn cách sống ít vô cảm hơn.

u/Chiensidietcong — 1 day ago

Tao từng theo dõi nhóm này từ thời gian đầu, nhưng có 1 thời gian chất lượng video bị giảm nên ít xem lại. Hôm nay vô tình xem thì rất ấn tượng với video này, có thể nói là 1 trong những video t thích nhất của nhóm cũng như thấy được cảm xúc của bạn Phong.

Anh em có thời gian nên nghe và ủng hộ kênh, tốt hơn nữa để chia sẻ cho người thân, bạn bè. Tao biết chúng ta chỉ là 1 hạt cát trong sa mạc, nhưng có còn hơn không. Cứ im lặng và khai trí dần cho người quen, tích luỹ lực lượng chờ ngày nắng lên.

u/Chiensidietcong — 7 days ago

Thiệt sự cần mấy thằng finance hoặc BĐS trong đây vô giải thích giùm vì có nhiều điểm tao cũng khá thắc mắc, đặc biệt là hàng loạt dự án gần đây.
• Đường sắt cao tốc Bắc Nam: 67 tỷ USD
• Metro TP.HCM đến 2035: 40 tỷ USD
• Sân bay Long Thành: 16 tỷ USD
• Công viên Q4 Khánh Hội: 20.000 tỷ VND
Và giờ thêm cái TOD Hàng Xanh này: 18 tỷ USD
Cộng sơ sơ đã mấy trăm tỷ đô. Tiền ở đâu ra dữ vậy?

Có 1 số điểm t thắc mắc ở dự án này:
- Đây ko phải đề xuất mới. 2025, nó đã được đề xuất với giá vốn gần 9 tỷ đô. Vậy mà mới chỉ 1 năm sau đã nhảy lên gấp đôi trong khi chưa thực sự đi vô thi công.
- Cơ chế thanh toán là trả bằng đất BXMĐ cũ theo kiểu đổi đất lấy hạ tầng. Nhưng mà: Đất BXMĐ đó trị giá bao nhiêu so với 18 tỷ đô? Ai định giá? Định giá lúc nào? Phần chênh lệch ai bù?
- CII vừa nghiên cứu vừa đầu tư. Vậy ai kiểm tra lại số? CII được thành phố giao nghiên cứu dự án, rồi chính CII đứng ra làm nhà đầu tư luôn. Trong khi Arup là đơn vị tư vấn nhưng do CII thuê chứ không phải bên độc lập. Vậy con số 18 tỷ và 7.3 triệu m2 sàn kia được kiểm định bởi ai?
- Dự án ảnh hưởng hơn 4.000 hộ dân. Vậy tiền đền bù giải phóng mặt bằng tính theo giá nào? Giá thị trường là thị trường nào? Trước khi có quy hoạch hay sau khi công bố TOD?
- Dự án này sống bằng việc bán/cho thuê hơn 7 triệu m2 nhà đất.Vậy giả sử thị trường BĐS xuống, bán không được thì sao? Có ai cam kết gánh lỗ không, hay cuối cùng lại chuyển về phía nhà nước?
- Văn hoá đội vốn ở xứ này. Nếu nó ko chỉ dừng ở 18 tỷ USD thì sao?
- Cuối cùng, nếu mọi thứ không đi như kế hoạch (đất không tăng giá, nhà không bán được, chi phí tăng),
thì người chịu rủi ro chính là ai: doanh nghiệp, nhà nước hay người dân?

u/Chiensidietcong — 9 days ago

Robert Michels đưa ra lý thuyết "Quy luật bàn tay sắt - Iron Law of Oligarchy" vào năm 1911 trong cuốn “Political Parties” và đây là một trong những quan sát chính trị cay đắng nhất từng được viết ra.

**Bối cảnh Michels viết**

Michels ban đầu là người theo chủ nghĩa xã hội, tham gia đảng Dân chủ Xã hội Đức - một đảng được xây dựng trên lý tưởng bình đẳng và đại diện cho giai cấp công nhân.

Nhưng càng ở trong đảng lâu, ông càng nhận ra một nghịch lý: đảng được lập ra để chống lại sự tập trung quyền lực đang tự mình trở thành một tổ chức tập trung quyền lực. Lãnh đạo đảng ngày càng xa rời thành viên, ngày càng ưu tiên sự tồn tại của tổ chức hơn lý tưởng ban đầu.

Ông ngồi viết lại tất cả những gì ông quan sát - và kết luận bằng một câu ngắn gọn và tàn nhẫn: “Ai nói tổ chức là nói đến sự thống trị của thiểu số.”

**Cơ chế hoạt động - tại sao nó xảy ra**

Michels không nói elite xấu. Ông nói cấu trúc tổ chức tự nó tạo ra oligarchy bất kể ý định ban đầu là gì.

**Đây là chuỗi logic:**

Bất kỳ tổ chức nào muốn hoạt động hiệu quả đều cần phân công - không phải ai cũng làm mọi thứ. Tự nhiên hình thành người chuyên về lãnh đạo, người chuyên về hành chính, người chuyên về truyền thông.

Những người chuyên về lãnh đạo tích lũy kỹ năng, quan hệ, thông tin mà thành viên bình thường không có. Khoảng cách năng lực tạo ra sự phụ thuộc, thành viên cần lãnh đạo hơn lãnh đạo cần thành viên.

Lãnh đạo dần có lợi ích riêng trong việc duy trì vị trí của mình lương, địa vị, quyền lực. Lợi ích đó dần tách rời khỏi lợi ích của tổ chức và thành viên.

Để bảo vệ vị trí, lãnh đạo kiểm soát thông tin, kiểm soát việc ai được vào tổ chức, kiểm soát ai được thăng tiến. Dần dần tổ chức phục vụ cho sự tồn tại của lãnh đạo không phải ngược lại.

**Phần đáng sợ nhất của lý thuyết**

Michels nói quá trình này xảy ra ngay cả khi mọi người đều có thiện chí. Không cần ai có ý định xấu, cấu trúc tự nó làm công việc.

Và ông đi xa hơn, ông nói ngay cả thành viên bình thường cũng góp phần vào quá trình này. Vì con người tâm lý tự nhiên muốn có lãnh đạo mạnh, muốn được dẫn dắt, sẵn sàng nhượng quyền kiểm soát để đổi lấy cảm giác an toàn và thuộc về.

Tức là oligarchy không chỉ được tạo ra từ trên xuống, nó được nuôi dưỡng từ dưới lên.

**Các ví dụ lịch sử xác nhận**

Liên Xô là ví dụ hoàn hảo nhất. Bắt đầu từ lý tưởng xóa bỏ giai cấp - kết thúc bằng một tầng lớp nomenclatura có đặc quyền còn lớn hơn quý tộc thời Sa hoàng. Xe Volga riêng, nhà nghỉ riêng, cửa hàng riêng, bệnh viện riêng, tất cả trong khi người dân xếp hàng mua bánh mì.

Công đoàn Mỹ thế kỷ 20 được lập ra để bảo vệ công nhân, dần trở thành tổ chức quan liêu phục vụ lãnh đạo công đoàn hơn là công nhân.

Các đảng xã hội dân chủ châu Âu, bắt đầu là phong trào giai cấp công nhân, dần trở thành đảng của tầng lớp trung lưu học thức với lãnh đạo xuất thân từ đại học danh tiếng.

Và tất nhiên, ĐCS VN, ĐCS Trung Quốc, Cuba - tất cả đều đi theo cùng một vết.

**Phản biện với Michels**

Michels bị chỉ trích vì quá bi quan và quá tuyệt đối. Ông nói oligarchy là tất yếu nhưng lịch sử cho thấy một số tổ chức và hệ thống chính trị đã kháng cự được phần nào.

Dân chủ tự do phương Tây không loại bỏ được oligarchy nhưng tạo ra cơ chế làm chậm và kiểm soát nó. Bầu cử định kỳ buộc lãnh đạo phải trả lời trước cử tri. Báo chí độc lập phơi bày lạm dụng quyền lực. Tòa án độc lập kiểm soát hành pháp.

Những cơ chế đó không hoàn hảo nhưng chúng tạo ra ma sát đủ lớn để oligarchy không hoàn toàn tự do làm gì thì làm.

Điều đó giải thích tại sao các nước dân chủ dù có nhiều vấn đề vẫn phục vụ người dân tốt hơn về trung bình không phải vì người lãnh đạo tốt hơn, mà vì cấu trúc tạo ra chi phí cao hơn cho việc lạm dụng quyền lực.

**Ứng dụng vào VN**

VN là trường hợp gần như thuần khiết của Iron Law of Oligarchy vì không có cơ chế ma sát nào đáng kể.

Không có bầu cử thật. Không có báo chí độc lập. Không có tòa án độc lập. Không có xã hội dân sự đủ mạnh. Tức là oligarchy ở VN vận hành gần như không có ma sát - và kết quả là nó tha hóa nhanh hơn và sâu hơn so với các hệ thống có cơ chế kiểm soát.

**Câu hỏi Michels để lại và chưa trả lời được**

Nếu oligarchy là tất yếu thì con người có thể làm gì?

Michels không có câu trả lời tốt. Ông kết thúc cuốn sách trong trạng thái gần như tuyệt vọng.

Nhưng những người đến sau ông đề xuất một hướng khác, không phải tìm cách loại bỏ oligarchy hoàn toàn, mà tìm cách thiết kế hệ thống tạo ra đủ ma sát để oligarchy không thể hoàn toàn tự phục vụ.

Đó là triết lý đằng sau tam quyền phân lập, đằng sau báo chí độc lập, đằng sau xã hội dân sự không phải tin vào sự tốt đẹp của con người, mà thiết kế hệ thống giả định con người sẽ lạm dụng quyền lực và tạo ra rào cản cho điều đó.

James Madison nói rõ nhất: “Nếu con người là thiên thần thì không cần chính phủ. Nếu thiên thần cai trị con người thì không cần kiểm soát chính phủ.”

Bi kịch của VN là xây dựng một hệ thống đòi hỏi lãnh đạo phải là thiên thần, trong khi không có thiên thần nào tồn tại.​​​​​​​​​​​​​​​​

u/Chiensidietcong — 10 days ago

Tính chính danh là niềm tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội rằng quyền lực của chính quyền hay đảng cầm quyền là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, và vì thế dân chúng phải phục tùng.

Tóm lại, chính quyền có chính danh tức là việc cầm quyền của họ là phù hợp, thích đáng trong suy nghĩ của người dân, và vì thế người dân chấp nhận phục tùng chính quyền ấy.

Do đó, có trường hợp chính quyền được thành lập hợp pháp, nhưng không được người dân cho là hợp lý, nên vẫn thiếu tính chính danh và cuối cùng sụp đổ. Nhiều chính quyền ở khối cộng sản Đông Âu cũ, như Đông Đức, Ba Lan, Hungary, mặc dù trên danh nghĩa được thành lập hợp pháp thông qua các cuộc bầu cử, song một khi đã hết tính chính danh – tức là không còn được số đông dân chúng ủng hộ, đã lần lượt sụp đổ vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước.

Làm thế nào để một tổ chức có được tính chính danh để trở thành chính quyền?

Theo nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920), có ba cách:

Nhờ truyền thống (cha truyền con nối);

Nhờ có sức hấp dẫn của lãnh tụ, lãnh đạo;

Nhờ được thành lập hợp pháp và hợp lý.

1. CHÍNH DANH NHỜ TRUYỀN THỐNG

Đây là trường hợp các chính thể, các vương triều cha truyền con nối.(Anh, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Morocco [Ma-rốc], Saudi Arabia [Ả-rập Xê-út], Kuwait [Cô-oét], Thái Lan…). Những chính quyền này được coi là có tính chính danh bởi vì chúng được công nhận từ lâu trong lịch sử, hay nói cách khác, tính chính danh của chúng được truyền lại từ các triều đại trước. Người dân ở những xã hội này chấp nhận chính thể đương thời bởi vì chính thể ấy đã cầm quyền từ lâu, thành truyền thống, và không ai còn đặt vấn đề phải xem xét lại hay phá bỏ truyền thống ấy.

2. CHÍNH DANH NHỜ CÓ LÃNH TỤ KIỆT XUẤT

Đó là những chính thể được công nhận là chính danh nhờ sự hấp dẫn của một cá nhân nào đó được công chúng sùng bái, và cá nhân đó đóng vai trò lãnh tụ, lãnh đạo. Ví dụ như các chính quyền Napoleon (Pháp), Mussolini (phát xít Ý), Hitler (Đức quốc xã), Fidel Castro (Cuba cộng sản), Khomeini (Hồi giáo Iran), Lenin, Staline (Liên Xô), Mao Trạch Đông (Trung Quốc cộng sản), dòng họ Kim Nhật Thành (Bắc Triều Tiên), và Hồ Chí Minh (Việt Nam cộng sản), v.v.

Nói cách khác, những chính quyền đó có được tính chính danh nhờ việc họ có một gương mặt cá nhân nào đó có sức hấp dẫn to lớn đối với dân chúng, được ngợi ca bởi công đức trời biển, được tôn vinh như “tiên đế”, “cha già dân tộc”, “khai quốc công thần”. Chừng nào nhân vật ấy còn được sùng bái, chừng đó chính thể còn có tính chính danh, và ngược lại, khi sự sùng bái của người dân đối với lãnh tụ kiệt xuất bị suy giảm thì khi ấy, tính chính danh của chính thể bắt đầu lung lay. Đến khi lòng kính trọng, tin yêu của dân chúng đối với lãnh tụ hoàn toàn chấm hết, thì chế độ không còn lý do để tồn tại.

Đó là lý do vì sao các chính quyền cộng sản như Liên Xô, Bắc Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc, Việt Nam… phải sống chết bảo vệ hình ảnh vị “cha già dân tộc” của mình, kể cả hàng chục năm sau khi ông ta mất. Ở những xã hội này, sự kính trọng, tin yêu đối với lãnh tụ được xem như đạo đức, như một phẩm chất tốt đẹp. Nói xấu, phỉ báng lãnh tụ bị coi là trọng tội và bị pháp luật trừng phạt.

Trên thực tế, sùng bái cá nhân đã chỉ đưa đến và củng cố chế độ độc tài và nô lệ. Không xã hội nào tiến bộ về đạo đức và văn hóa chính trị nhờ việc dân chúng sùng bái lãnh tụ.

Nhiều người chống cộng, tuy ủng hộ đấu tranh dân chủ, nhưng cũng không tán thành việc đem Bác Hồ ra làm trò cười. Nhưng cũng không ai giải thích được tại sao kính trọng lãnh tụ lại là một thứ đạo đức.

Đó chính là bởi vì tâm lý sùng bái lãnh tụ trong dân chúng Việt Nam còn rất nặng, mà tâm lý ấy là kết quả của sự tuyên truyền không ngừng nghỉ của chính quyền cộng sản về ông Hồ Chí Minh như vị cha già dân tộc.

3. CHÍNH DANH NHỜ HỢP PHÁP VÀ HỢP LÝ

Đó là những chính quyền có được tính chính danh nhờ:

Được thành lập một cách hợp pháp, hợp lý;

Có hiến pháp, luật pháp giới hạn quyền lực của nhà nước để không xâm phạm vào tự do của người dân;

Có nhà nước pháp trị, tam quyền phân lập, các chức vụ nhà nước đều có nhiệm kỳ và được bầu cử công bằng, tự do.

Tất nhiên là, như các bạn có thể thấy, các chính thể đều sẽ tự nhận mình là “chính danh nhờ hợp pháp và hợp lý”. Chẳng một chính thể nào lại nhận mình “cướp chính quyền” và không có tính chính danh.

Tương tự, tất cả các chính quyền trên thế giới này đều đã, đang và sẽ nhận họ là chính thể dân chủ. Không một chính thể nào lại tự nhận mình là độc tài, phi dân chủ. Có nghĩa là, dù có thể còn gây tranh cãi, nhưng dân chủ vẫn được toàn thế giới xem là một giá trị đáng có. Phần III, “Dân chủ”, sẽ bàn về giá trị này.

* * *

Max Weber đưa ra lý thuyết của ông về ba kiểu chính quyền có tính chính danh trong một tiểu luận xuất bản vào năm 1922. Tiểu luận rất nổi tiếng và lý thuyết của ông có ảnh hưởng từ đó đến nay. Về sau này, các học giả mới bổ sung thêm một kiểu chính danh nữa, đó là chính danh có được nhờ đạt thành tựu về kinh tế và/hoặc đạo đức cũng như năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bạn có thấy “nghe quen quen” không? Rất quen là đằng khác, bởi vì một nhà nước điển hình cho sự xây dựng tính chính danh kiểu này là láng giềng của Việt Nam, chung ý thức hệ cộng sản với Việt Nam: Trung Quốc.

Khi nhà nước cộng sản ở Bắc Kinh mới thiết lập được chính quyền (năm 1949), tính chính danh của nó có được nhờ những hứa hẹn với người dân về một đất nước hùng mạnh, xã hội cộng sản bình đẳng, quan chức trong sạch không tham nhũng, dân chúng ai nấy đều có việc làm ổn định và được bảo đảm về lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục… Dần dần về sau, những thành tựu kinh tế nổi bật, một nền quốc phòng mạnh đủ làm khu vực và thế giới khiếp sợ, trở thành cơ sở chủ yếu để nhà cầm quyền Bắc Kinh tạo và giữ được tính chính danh với nhân dân. Người dân Trung Quốc cần những cái cớ để tự hào về đất nước, để lòng tự hào dân tộc của họ được ve vuốt, và có vẻ như đảng Cộng sản Trung Quốc  cầm quyền đã giúp họ có được và duy trì những cớ đó. Đổi lại, dân chúng sẽ trung thành với chế độ và chấp nhận hy sinh một số quyền dân sự và chính trị.

Tuy thế, thành tựu kinh tế và sức mạnh quốc phòng có thể làm nên tính chính danh của một nhà nước thì cũng có thể làm cho tính chính danh ấy bị bào mòn, thậm chí bị xóa sạch, đến mức nhà nước phải sụp đổ. Khi nào kinh tế Trung Quốc sa sút, bất bình đẳng xã hội gia tăng, quân đội Trung Quốc thất bại trước một đối thủ nào đó… thì Bắc Kinh mất chính danh. Cần nhớ rằng, kinh tế suy thoái, phúc lợi xã hội không đảm bảo, chất lượng sống thấp kém, cũng là những yếu tố dẫn đến sự mất tính chính danh của các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu ngày trước. (Trong khi đó, họ lại không có vị lãnh tụ kiệt xuất nào như Lenin hay Stalin của Liên Xô).

Nhiều người Đức cho rằng truyền hình (ngoài luồng) đóng một vai trò quan trọng khiến chế độ cộng sản ở Đông Đức cũ thất bại trước Tây Đức dân chủ tự do, và nước Đức thống nhất.

Ấy là do trước thời điểm thay đổi, những người dân Đông Đức đã được tiếp xúc với thông tin từ Tây Đức qua truyền hình. Đặc ủy nhân quyền Đức Christoph Strässer kể với người viết trong một cuộc trò chuyện vào sáng 5/6/2015 tại Hà Nội: “Ở CHDC Đức hồi đó, có quy định ăng-ten (antenna) chỉ được quay sang một hướng nhất định thôi, hướng đài truyền hình quốc gia. Nhưng nhiều người, ví dụ ở vùng Đông Berlin, vẫn sáng tạo lắm, họ làm cách nào đấy để nhận được thông tin, hình ảnh từ Tây Đức”.  

Và thế là dân chúng Đông Đức hiểu rằng trong khi họ đang phải “xếp hàng cả ngày”, phải tiêu dùng những hàng hóa chất lượng tồi, phải sống đời sống văn hóa-tinh thần nghèo nàn, xám xịt và bị kiểm soát, thì ngay sát bên họ, có một nước Đức khác. Một Tây Đức phồn vinh, mức sống cao trong một xã hội tiêu thụ đầy màu sắc rực rỡ, và có những ban nhạc như Modern Talking, Scorpions…

Họ bắt đầu khao khát, ước mơ, hoặc là ghen tị, thèm muốn… Gọi là gì cũng được, tùy chúng ta nghĩ. Nhưng rõ ràng là đã có một thời truyền hình góp phần mở cửa ra thế giới, thúc đẩy ước mơ và dẫn đến thay đổi xã hội theo hướng dân chủ hóa.

Bài hát Geronimo’s Cadillac của Modern Talking (1986) có câu “chiếc xe Cadillac của Geronimo làm tất cả các cô gái đều phát khùng”. Có lẽ cuộc sống đầy màu sắc ở Tây Đức ngày đó cũng đã làm rất nhiều người Đông Đức “phát khùng”.    

So với đồng nhiệm Trung Quốc, đảng Cộng sản Việt Nam khó có khả năng xây dựng tính chính danh nhờ thành tựu kinh tế và quốc phòng. Nhà nước CHXHCN Việt Nam thường bị dân chúng chỉ trích, hoặc ít nhất cũng nghi ngờ, về chính sách phát triển kinh tế và năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhất là chủ quyền biển đảo. Trong khi đó, hầu như chưa người dân Trung Quốc nào phải trải qua cảm giác đất nước họ thất bại về kinh tế, chính quyền của họ duy trì chính sách đối ngoại nhu nhược, luồn cúi trước ngoại bang.

Từ đó, các bạn có thể thấy rằng vấn đề kinh tế và đặc biệt là bảo vệ chủ quyền đã trở thành tử huyệt tiềm tàng của đảng Cộng sản Việt Nam.

* * *

XÂY DỰNG TÍNH CHÍNH DANH

Dựa vào lý thuyết của Max Weber, chúng ta thấy rằng, để một tổ chức có được tính chính danh và trở thành chính quyền, áp đặt quyền lực nhà nước lên toàn xã hội, thì tổ chức ấy:

Một là may mắn được thừa hưởng quyền lực từ triều đại trước (cha truyền con nối), ở những xã hội mà chính quyền có được tính chính danh nhờ truyền thống. Hoặc:

Hai là phải có được một nhân vật lãnh đạo có sức hấp dẫn đặc biệt đối với công chúng, một cá nhân kiệt xuất. Hoặc:

Ba là có được quyền lực một cách hợp lý và hợp pháp, và duy trì nó cũng với một cách hợp lý và hợp pháp: xây dựng và bảo vệ một bản hiến pháp dân chủ, đảm bảo nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập, bầu cử tự do và công bằng…

Tuy nhiên, hẳn các bạn cũng đã thấy từ định nghĩa: Tính chính danh là niềm tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội rằng quyền lực của chính quyền hay đảng cầm quyền là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, và vì thế dân chúng phải phục tùng. Xin nhấn mạnh từ “niềm tin” trong định nghĩa này. Như vậy có nghĩa là, về bản chất, chính quyền có tính chính danh là bởi vì dân chúng tin rằng chính quyền ấy cầm quyền là đúng. Điều này cũng hàm ý: Quan trọng là niềm tin; một chính quyền muốn tạo ra và duy trì tính chính danh thì phải làm cho dân chúng có niềm tin ấy.

Bằng cách nào? Có thể bằng bạo lực, đe dọa và khủng bố, để ép người dân phải tin “chính quyền này mạnh lắm và họ cầm quyền là đúng”. Cũng có thể bằng tuyên truyền và lừa dối. Hay tốt nhất là kết hợp cả hai: bạo lực và tuyên truyền.

Chính quyền có thể sử dụng tuyên truyền, quảng cáo, PR để tạo ra và/hoặc làm tăng tính chính danh cho mình. Một chính quyền có chính danh hay không là do chính quyền đó tuyên truyền giỏi đến đâu mà thôi. (Beetham, 1991)  

Người viết tin rằng, tà quyền thì sẽ dùng bạo lực và tuyên truyền để có được niềm tin của dân chúng, từ đó xây dựng và củng cố tính chính danh. Còn chính quyền thì sẽ xây dựng chính danh qua cách thứ ba – chính danh nhờ hợp pháp và hợp lý – hoặc cách thứ tư – đạt những thành tựu kinh tế vượt trội so với khu vực và thế giới. Song ngay cả cách thứ ba, thứ tư này cũng phải được kết hợp chặt chẽ, khéo léo với truyền thông chính trị.

* * *

PHÁ HỦY TÍNH CHÍNH DANH CỦA LỰC LƯỢNG ĐỐI LẬP

Với những nhà nước độc tài, muốn duy trì ách cai trị vĩnh viễn, thì song song với việc củng cố tính chính danh của mình là việc phá hủy tính chính danh của lực lượng đối lập. Bằng cách nào? Bằng cách tuyên truyền sâu rộng cho dân chúng thấy những người đối lập không xứng đáng để tham gia chính trị, không đủ tư cách, năng lực, tài đức v.v.để cầm quyền. Tóm lại, cách mà chắc chắn mọi thể chế độc tài sẽ thực hiện là phá hoại hình ảnh của lực lượng đối lập, ra sức cô lập, cách ly họ khỏi nhân dân.

Tại một hội nghị tổng kết công tác tuyên giáo toàn quốc 2012, diễn ra sáng 9/1/2013 tại Hà Nội, ông Hồ Quang Lợi – nhà báo, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội – phát biểu đại ý: Hà Nội đã tổ chức được đội ngũ 900 dư luận viên trên toàn thành phố nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ tuyên truyền miệng. Trong khi đó, báo chí thủ đô thực hiện ý kiến chỉ đạo về những vụ việc nhạy cảm; thành lập các tổ phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh. Tổ chức “nhóm chuyên gia” đấu tranh trực diện trên mạng Internet, tham gia bút chiến trên Internet. Đến nay, đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng.

Đó là lần đầu tiên khái niệm “dư luận viên” được nhắc tới công khai, trên báo chí chính thống.Nhưng những người làm công việc đó thì hẳn đã có mặt ở Việt Nam từ lâu, dưới những cái tên như “tuyên truyền viên”, “cộng tác viên dư luận xã hội”. Trước khi Internet vào Việt Nam (cuối năm 1997), họ chủ yếu làm tuyên truyền miệng. Kể từ khi Internet xuất hiện, họ bắt đầu hoạt động mạnh trên mạng, có mặt ở khắp các diễn đàn, tung ý kiến “định hướng” diễn đàn và “đấu tranh” với các ý kiến phê phán, chỉ trích đảng và nhà nước cộng sản. Có thời họ được gọi là “hồng vệ binh”, vì phong cách đặc biệt hung hãn, dữ tợn, chẳng khác các hồng vệ binh ở Trung Quốc hồi Cách mạng Văn hóa.

Nhưng chỉ đến khi Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Hồ Quang Lợi nhắc đến cụm từ “dư luận viên” và được báo chí chính thống trích dẫn, hoạt động thuê người định hướng dư luận và phá hoại hình ảnh của đối lập mới được công khai thừa nhận ở Việt Nam.

Dư luận viên đã hoạt động mạnh trong thời gian sau đó.Hàng chục blog, website và facebook được mở ra, chuyên đăng bài vở bôi nhọ, lăng mạ các cá nhân và tổ chức hoạt động dân chủ-nhân quyền ở Việt Nam, như: Mõ Làng, Tre Làng, Google Tiên Lãng, Người Con Đất Mẹ, facebook Việt Nam Thời Báo 1, facebook Đơn vị Tác chiến Điện tử, facebook Em yêu chú công an nhân dân, v.v.

Bên cạnh đó, lực lượng an ninh cũng ráo riết hoạt động, với những nghiệp vụ như rình mò, theo dõi những người bất đồng chính kiến, bới móc các chuyện cá nhân của họ, nhất là chuyện tình ái, công việc làm ăn, để tung lên mạng bêu riếu, sỉ nhục họ “vô đạo đức”, “đồi trụy”, “đồi bại”, “tham tiền”, “ăn tiền hải ngoại”, v.v.

Mục đích, không gì khác, chính là để phá hoại hình ảnh của các lực lượng chính trị khác ngoài đảng Cộng sản cầm quyền, tiêu diệt niềm tin của người dân vào phong trào dân chủ, cũng tức là tiêu diệt tính chính danh của đối lập.

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, dư luận viên còn có thêm một chức năng là đe dọa, khủng bố tinh thần những người phản biện chính quyền, đặc biệt nếu đó là trí thức. Có lẽ bởi dư luận viên nắm bắt được tâm lý chung của trí thức là sợ bị xúc phạm, sợ thứ ngôn ngữ chợ búa và ngại “cãi cọ như hàng tôm hàng cá”, nhất là ở các môi trường công cộng như mạng xã hội facebook.

Ví dụ về một comment kiểu đe dọa, xuất hiện trên facebook nhà báo Đào Tuấn khi ông và báo Đại Đoàn Kết đăng loạt bài tưởng niệm cuộc chiến tranh biên giới 1979 với Trung Cộng: “… thích “cấp tiến” thì kiếm nồi cơm khác mà diễn. Xuyên tạc lịch sử để câu view đừng trách bị ăn chửi. Có nhiều cách để mày kiếm cơm động vào những thứ linh thiêng thì mồm ngậm tiền nhưng răng không còn đâu…”.

Cũng cần nói thêm rằng sử dụng dư luận viên không phải sáng kiến của tuyên giáo và an ninh đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm về một đội quân mạng được huy động để định hướng dư luận và tấn công những ý kiến phản biện đảng và nhà nước cộng sản ít nhất cũng đã xuất phát từ Trung Quốc. Vào tháng 10/2004, Sở Thông tin Tuyên truyền Changsha bắt đầu thuê các “bình luận viên chuyên nghiệp trên mạng Internet” – đây có lẽ là một trong những lần sớm nhất nghề này được nhắc tới ở Trung Quốc.

u/Chiensidietcong — 14 days ago

Kèo này nếu đẩy ra toà án quốc tế sẽ khá thúi với Việt cộng nên dự là bọn nó sẽ cóng đít lên vá, còn thua thì sắp tới xác nhận đè dân ra vắt tiếp.

Link báo: https://laodong.vn/xa-hoi/tphcm-khan-truong-hoa-giai-voi-nha-thau-nhat-ban-tai-metro-so-1-1690624.ldo

Giờ thế thì bên Nhật đang là phe chủ động hơn rõ ràng.

Phía Việt+

  1. Giải phóng mặt bằng kéo dài nhiều năm, đặc biệt đoạn ngầm qua trung tâm. Nhà thầu không thể thi công khi mặt bằng chưa sạch.

  2. Điều chỉnh thiết kế nhiều lần trong quá trình thi công, làm nhà thầu phải dừng chờ phê duyệt lại.

  3. Phê duyệt vốn chậm và thanh toán không đúng hạn, điều này MAUR gần như thừa nhận gián tiếp khi nhắc đến “lãi suất chậm thanh toán” là một trong các khoản phát sinh.

  4. Bộ máy phê duyệt nhiều tầng: dự án ODA phải qua Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Chính phủ mà mỗi lần điều chỉnh tổng mức đầu tư mất hàng năm.

Phía Nhật

  1. Hitachi bị MAUR cáo buộc “thoái thác công việc” trong giai đoạn chạy thử và đào tạo nhân sự vận hành. Đây là điểm MAUR đang dùng để phản công.

  2. Tiến độ thi công thực tế ở một số hạng mục cũng chậm so với kế hoạch nhà thầu tự đề ra, không hoàn toàn do chủ đầu tư.

=> Tuy nhiên, nhà thầu sẽ lập luận rằng sự chậm trễ của họ là hệ quả của chủ đầu tư chậm trước, và trong FIDIC, lập luận này thường có cơ sở.

Vấn đề cốt lõi

Trong hợp đồng FIDIC, nguyên tắc là: ai gây ra sự kiện làm kéo dài tiến độ thì người đó chịu chi phí phát sinh tương ứng. Khi cả hai bên đều có lỗi, hội đồng trọng tài sẽ phân bổ tỷ lệ nhưng các nguyên nhân từ phía chủ đầu tư (mặt bằng, thanh toán, phê duyệt) thường dễ chứng minh bằng văn bản hơn, trong khi lỗi nhà thầu thường tranh cãi được nhiều hơn.

Đó là lý do Hitachi tự tin đẩy ra trọng tài, họ có hồ sơ giấy tờ chứng minh chủ đầu tư chậm giao mặt bằng, chậm thanh toán, chậm phê duyệt. Còn MAUR muốn hòa giải vì biết ra trọng tài sẽ khó thắng hoàn toàn.​​​​​​​​​​​​​​​​

u/Chiensidietcong — 15 days ago

Nếu như dưới thời cộng sản, dân Vẹm chỉ được nhồi nhét triết học Mark - Lenin thì triết học thời VNCH lại đa dạng hơn nhiều. Không phải tự nhiên mà con dân ngta lại nhớ hoài về nền giáo dục khai phóng đó. Trong đó, môn học này được dạy vào lớp 12 với mục đích rèn luyện khả năng logic và tư duy phản biện - thứ mà giáo dục đời sau lại lược bỏ.

u/Chiensidietcong — 16 days ago